Thứ Sáu, 5 tháng 5, 2017

Bại não: Bệnh các bà mẹ cần biết

Tin mới

25/04/2017 22:24

Bại não là một thuật ngữ thường dùng để mô tả một nhóm các tình trạng bệnh mạn tính ảnh hưởng đến vận động và sự phối hợp cơ bắp. Bại não do các tổn thương một hoặc nhiều vùng của não, thường xảy ra trong quá trình phát triển của thai nhi trước, trong hoặc sau sinh một thời gian ngắn hay trong thời kỳ trẻ nhỏ.

Bại não là một bệnh không tiến triển, không lây.

Bại não không phải là một rối loạn chỉ do nguyên nhân duy nhất. Đây là một nhóm các rối loạn kiểm soát vận động giống nhau với nhiều nguyên nhân khác nhau. Bại não bẩm sinh do các tổn thương não xảy ra khi thai nhi còn nằm trong tử cung hoặc trong khi sinh (chiếm 70%).

Nguyên nhân gây bại não:

- Nhau thai bất thường không cung cấp đủ ôxy và chất dinh dưỡng cho thai nhi.

- Bất đồng nhóm máu giữa mẹ và con.

- Mẹ mắc các bệnh truyền nhiễm trong thai kỳ đầu.

- Trẻ sinh thiếu tháng hoặc thấp cân.

- Thiếu ôxy kéo dài trong khi sinh hoặc vàng da nặng sau sinh.

Các dấu hiệu sớm của bại não thường khởi đầu trước 18 tháng tuổi. Cha mẹ là người đầu tiên nhận thấy trẻ không phát triển được kỹ năng vận động bình thường. Trẻ chậm lẫy, chậm bò, chậm biết đi so với mốc phát triển bình thường. Trẻ bị giảm trương lực cơ: chi mềm nhũn, buông thõng; hoặc tăng trương lực cơ: trẻ cứng đờ hoặc vận động cứng nhắc.

Các dấu hiệu lâm sàng:

- Thể co cứng (chiếm 70%-80%): Các cơ cứng nhắc và co cứng thường xuyên. Co cứng 2 chân hoặc nửa người.

- Thể loạn trương lực (chiếm 10%-20%): Có những vận động bất thường ở 2 chân và 2 tay. Mặt nhăn nhó, nói khó, chảy nước dãi. Các vận động bất thường này mất khi đi ngủ. Ở trẻ lớn biểu hiện: viết chậm, không kiểm soát được động tác.

- Thể thất điều (chiếm 5%-10%): Bước đi khó khăn, loạng choạng, khó thực hiện động tác chính xác. Run tay, chân.

Tùy theo vùng não bị tổn thương mà trên lâm sàng biểu hiện các triệu chứng đa dạng: co cứng, nuốt khó, nói khó, rối loạn tư thế hoặc vận động. Có thể rối loạn chức năng các giác quan: điếc, không ngửi được, giảm thị lực. Đôi khi co giật, chậm phát triển tâm thần, bất thường về hô hấp, rối loạn tiểu tiện.

Chăm sóc và phòng bệnh:

Trẻ cần được chăm sóc phối hợp với sự kết hợp của bác sĩ điều trị, nhân viên vật lý trị liệu, giáo viên, nhân viên công tác xã hội. Điều này cần bắt đầu từ rất sớm ngay khi phát hiện bệnh của trẻ. Điều trị bằng nội khoa, phẫu thuật và phục hồi chức năng giúp cải thiện sự phối hợp động tác cơ và dây thần kinh, phòng ngừa hoặc làm giảm tối thiểu các rối loạn chức năng.

Có nhiều biện pháp phòng bệnh bại não trước sinh. Bà mẹ cần được theo dõi và quản lý thai nghén chặt chẽ. Xét nghiệm yếu tố Rh, dự phòng hậu quả của bất đồng nhóm máu. Nếu có bất đồng nhóm máu thì trẻ phải được thay máu hoặc điều trị vàng da ngay từ những ngày đầu sau sinh. Bà mẹ cần được phát hiện và điều trị các bệnh mạn tính, nhiễm khuẩn đường sinh dục - tiết niệu, tiêm phòng bệnh Rubella trước khi mang thai. Tránh tiếp xúc tia phóng xạ, dùng thuốc và các chất kích thích trong quá trình thai nghén. Người mẹ phải khỏe mạnh trước lúc thụ thai; chăm sóc trước sinh tốt, chế độ dinh dưỡng đầy đủ để tránh sinh non tháng, thấp cân. Bảo vệ trẻ khỏi các bệnh nhiễm trùng và chấn thương sọ não.

Bác sĩ Ngô Văn Tuấn
Source : nld[dot]com[dot]vn

Thứ Tư, 3 tháng 5, 2017

Những loại thực phẩm không tốt cho xương

Tin mới

23/04/2017 22:26

Chế độ ăn uống có ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe của bộ xương chúng ta. Để xương phát triển tốt, bạn nên hạn chế các thức ăn, đồ uống sau đây trong chế độ ẩm thực hằng ngày.

1. Đường

Không ai lại không có cảm giác ngọt ngào do đường mang lại. Thế nhưng, đường glucose lại gây ra những hệ lụy không tốt cho xương. Tại sao lại như vậy? Khi cơ thể phải tiếp nhận một lượng đường quá lớn thì việc hấp thu canxi bị cản trở, giảm lượng phốt pho. Từ đó, xương ít nhận được canxi khiến nó yếu đi.

Cho nên, bạn phải từ bỏ thói quen ăn ngọt (đường glucose), thay vào đó nên ăn nhiều trái cây, củ quả (chứa đường fructose ít gây hại hơn).

2. Muối

Một chế độ ăn có nhiều muối sẽ khiến xương giòn, xốp và dễ gãy. Theo nhiều nghiên cứu, nếu nạp vào cơ thể 2,3 g natri có trong muối ăn hằng ngày thì sẽ làm mất 40 mg canxi trong xương.

Ngoài ra, muối cũng là thủ phạm gây nhiều bệnh như cao huyết áp, bệnh tim mạch, bệnh thận. Nhóm thực phẩm chứa nhiều muối là cà muối, dưa muối, thức ăn đóng hộp, đồ ăn nhanh, kim chi. Vì vậy, nên tránh ăn nhiều muối để khỏi mắc bệnh.

3. Thức ăn, đồ uống chứa caffein

Cứ mỗi 100 mg thức ăn, đồ uống chứa caffein được nạp vào cơ thể thì bộ xương lại mất đi 6 mg canxi. Khi những thức ăn, đồ uống này được kết hợp với đường thì hậu quả của nó gây ra với bộ xương càng tăng gấp nhiều lần.

Tuy nhiên, caffein cũng có những mặt lợi của nó cho sức khỏe, như uống cà phê trước một buổi tập thể dục làm tăng tiêu mỡ trong cơ thể. Vì vậy, không nên thái quá hay bất cập.

4. Soda

Nếu bạn uống 7 ly soda hoặc nhiều hơn mỗi tuần sẽ khiến mật độ khoáng chất trong xương bị suy giảm, làm tăng nguy cơ bị gãy xương do trong soda có chứa axít phosphoric ngăn cản quá trình hấp thu canxi của cơ thể nên xương dễ bị loãng.

5. Thức uống chứa cồn

Việc uống rượu bia gây hại cho sức khỏe đã được biết đến từ lâu. Rượu bia (nhất là rượu mạnh) sẽ khiến mật độ xương bị suy giảm, làm xương xốp, rỗng và tăng nguy cơ bị gãy xương. Các chuyên gia về sức khỏe khuyến cáo không nên uống quá 1 ly rượu mỗi ngày để tránh xương bị “bệnh”.

6. Dầu hydro hóa

Loại dầu ăn này được sử dụng nhiều trong quá trình sản xuất bánh xốp, bánh quy, bánh nướng hoặc được sinh ra khi chiên, rán thực phẩm. Vì thế, nó tập trung nhiều trong các loại đồ ăn nhanh, chế biến sẵn. Thay vào đó, nên dùng dầu ăn chứa hàm lượng lớn omega-3 như dầu ô liu, dầu hạt lanh, dầu mè, dầu đậu nành để không gây hại cho xương.

Bác sĩ Ngô Văn Tuấn
Source : nld[dot]com[dot]vn

Thứ Hai, 1 tháng 5, 2017

Cách tránh nắng mùa hè

Tin mới

20/04/2017 22:15

Vào mùa hè, thời tiết nóng nực, mọi người từ già đến trẻ ai cũng muốn vùng vẫy trong làn nước biển, hồ bơi, sông suối. Ánh nắng tuy tốt cho sức khỏe nhưng cũng có hại nếu lạm dụng.

Ánh nắng mặt trời có nhiều loại tia, tùy theo bước sóng. Đáng chú ý là tia hồng ngoại và tia cực tím (UV). Phơi nắng nhiều ngoài trời dễ bị tác động của tia hồng ngoại làm da cháy nắng, phỏng nắng. Bên cạnh đó, da còn bị ảnh hưởng bởi tia UV. Tắm nắng tốt nhất là vào mùa hè, từ 6-8 giờ, lúc này ánh nắng sẽ biến tiền vitamin D ở da thành vitamin D hấp thu vào cơ thể giúp chống còi cọc ở trẻ em, cố định canxi ở xương, làm xương chắc khỏe và phòng ngừa loãng xương. Ngoài ra, các bệnh nhân lao cũng được khuyên phơi nắng buổi sáng để diệt các vi khuẩn lao mà họ ho khạc ra ngoài không khí.

Tia UV có 2 loại: UVA và UVB. Tia UVB được ADN của tế bào hấp thu và gây rối loạn cho hiện tượng nhân đôi dẫn đến đột biến. Nếu biến đổi không quan trọng, tế bào sẽ có khả năng phục hồi các tổn thương. Nếu các biến đổi trầm trọng, tế bào mất khả năng sửa chữa và các đột biến sẽ truyền lại cho các tế bào con. Khi các đột biến liên quan đến các gien ức chế ung thư, các gien kiểm soát sự tăng sinh tế bào thì đó là bước khởi đầu cho hiện tượng ung thư hóa.

Tia UVA không được ADN hấp thu nhưng nó tác động tạo ra các phân tử độc hại cho tế bào. Tia UVA tạo ra các gốc tự do, gia tăng sự lão hóa và nguy cơ mắc ung thư. Vì vậy, cần tránh ánh nắng có hại bằng cách:

- Vào những lúc trời nắng gắt, khoảng 11-16 giờ, phải tìm bóng râm để nghỉ. Không cho trẻ em chạy chơi ngoài nắng, phơi mình ngoài trời, tắm trong nước có ánh nắng rọi vào.

- Áo quần là phương tiện bảo vệ cơ thể chống lại các tia UV, chống ánh nắng mặt trời, là phương pháp hữu hiệu hơn các sản phẩm chống nắng khác trên thị trường. Áo màu trắng ít hút ánh nắng hơn áo màu đậm nên mặc dễ chịu hơn. Tuy nhiên, áo màu đậm chống tia UV tốt hơn.

- Các phụ kiện cần trang bị là kính mát, đặc biệt là kính chống tia UV để bảo vệ mắt. Đội mũ rộng vành để che mặt, cổ, ót. Sử dụng các loại kem, dầu chống nắng, đặc biệt là các loại chống được tia UV.

- Dùng những thực phẩm mát như nước rau má, nước bí đao, cà chua, dưa hấu; thức ăn giàu vitamin E như giá đỗ, đậu nành…

Bác sĩ Ngô Văn Tuấn
Source : nld[dot]com[dot]vn

Thứ Bảy, 29 tháng 4, 2017

60% người được khảo sát không uống đủ lượng nước cần thiết hàng ngày

Tập đoàn dinh dưỡng toàn cầu Herbalife vừa công bố kết quả khảo sát về dinh dưỡng cân bằng tại khu vực Châu Á Thái Bình Dương.

Cuộc khảo sát tập trung nghiên cứu các vấn đề về dinh dưỡng, thói quen, thái độ và hành vi chăm sóc sức khỏe của người tiêu dùng từ 18 tuổi trở lên. Cuộc khảo sát là một phần trong Hành trình Sức khỏe Châu Á Thái Bình Dương lần thứ 7 của Herbalife, được tổ chức nhằm mục đích khuyến khích cộng đồng theo đuổi những thói quen dinh dưỡng lành mạnh và phát huy hiệu quả của lối sống này đối với sức khỏe.

Theo kết quả của cuộc khảo sát, 64% người tiêu dùng Việt Nam hàng ngày đang ăn ít hơn một nửa lượng rau củ quả so với nhu cầu được khuyến nghị, 60% người không uống đủ nước, 7% không dành đủ thời gian để tập thể dục. Có đến 47% người tiêu dùng tại Việt Nam tin rằng động cơ hấp dẫn nhất để theo đuổi chế độ dinh dưỡng cân bằng là nhằm đảm bảo cơ thể được cung cấp đủ chất dinh dưỡng và thực hiện tối ưu các chức năng. 


Source : laodong[dot]com[dot]vn

Thứ Tư, 26 tháng 4, 2017

Tin mới

18/04/2017 22:08

Nghiên cứu của các nhà khoa học Mỹ thuộc ĐH Mason (bang Virginia) nêu triển vọng bào chế dạng kháng sinh mới có khả năng đối phó với vi khuẩn đã kháng thuốc kháng sinh từ máu của rồng komodo.

Trong công trình được đăng tải trên tạp chí NPJ Biofilms and Microbiomes, nhóm nghiên cứu khảo sát một peptide tên gọi VK25 trong máu của rồng komodo, phát hiện tính chất kháng khuẩn và ngăn ngừa hình thành màng sinh học - là cơ thể vi sinh gồm hàng loạt vi khuẩn dính vào nhau để phát triển và cùng tự bảo vệ. Hai amino acid trong VK25 được họ thiết kế lại nhằm tạo công hiệu mạnh hơn và cho ra phiên bản peptide tổng hợp mới được đặt tên là DRGN-1.

Komodo là loài bò sát khổng lồ sinh sống tự nhiên tại một số đảo thuộc Indonesia. Ảnh: TNT

Komodo là loài bò sát khổng lồ sinh sống tự nhiên tại một số đảo thuộc Indonesia. Ảnh: TNT

Tiếp theo đó, họ thử nghiệm DRGN-1 trên chuột có vết thương bị nhiễm 2 dòng vi khuẩn đã kháng thuốc kháng sinh là Pseudomonas aeruginosa và Staphylococcus aureus. Họ nhận thấy DRGN-1 đã phá hủy màng sinh học ở vết thương trước khi tiêu diệt vi khuẩn và khiến vết thương mau lành. Nhóm nghiên cứu hy vọng peptide tổng hợp DRGN-1 có thể là chất liệu ban đầu dẫn tới việc bào chế một loại kháng sinh mới có thể tiêu diệt các loại vi khuẩn đã kháng thuốc ở con người.

Trúc Lâm
Source : nld[dot]com[dot]vn

Thứ Hai, 24 tháng 4, 2017

Trái bơ giúp giảm mỡ máu, hạ huyết áp

Tin mới

16/04/2017 21:11

Nghiên cứu tổng kết của các nhà khoa học Iran thuộc ĐH Y khoa Mashhad mới được công bố trên tạp chí Phytotherapy Research nêu khả năng dùng thường xuyên trái bơ có thể giúp trị liệu hội chứng chuyển hóa.

Nhóm nghiên cứu đã xem xét dữ liệu của nhiều thử nghiệm trên thực tế, trong phòng thí nghiệm và lâm sàng, phát hiện khả năng chữa trị chứng rối loạn lipid máu của trái bơ. Họ dẫn chứng một khảo sát điển hình cho thấy việc thêm trái bơ vào bữa ăn hằng ngày trong một tuần có thể giúp kéo giảm đáng kể mức độ cholesterol tổng, cholesterol xấu (LDL) và triglyceride.

Nghiên cứu nêu khả năng hạ mỡ máu, hạ huyết áp từ việc dùng trái bơẢnh: MEDICAL DAILY
Nghiên cứu nêu khả năng hạ mỡ máu, hạ huyết áp từ việc dùng trái bơẢnh: MEDICAL DAILY

Một khảo sát khác cho thấy những người dùng trái bơ hằng ngày trong 6 tháng có thể trọng, chỉ số thể hình (BMI) và tỉ lệ mỡ trong cơ thể giảm đáng kể. Vài khảo sát cũng cho thấy việc dùng trái bơ có thể giúp hạ huyết áp ở người cao huyết áp và hạn chế tình trạng xơ vữa động mạch. Ngoài ra, một khảo sát được công bố hồi năm 2014 đã phát hiện việc dùng dầu chiết xuất từ lá bơ cũng có thể giúp hạn chế mức độ cholesterol xấu và hạ huyết áp.

Nhóm nghiên cứu cho rằng các thành phần trong trái bơ có thể giúp điều chỉnh quá trình trao đổi chất, hấp thu có chọn lọc và thủy phân lipoprotein tại những mô khác nhau như ở gan và tụy. Thành phần làm nên hoạt tính sinh học mang lại lợi ích trong trái bơ gồm các carotenoid, axít béo và những khoáng chất như canxi, kali, sắt, kẽm.

Trúc Lâm
Source : nld[dot]com[dot]vn

Thứ Sáu, 21 tháng 4, 2017

Phòng bệnh khi đi bơi

Tin mới

13/04/2017 21:28

Nắng nóng khiến nhiều người chọn giải pháp đi bơi. Trước khi đi bơi, bạn hãy đọc qua bài này.

1. Bệnh phụ khoa

Môi trường trung gian của nước bể bơi khiến bạn dễ mắc các bệnh phụ khoa. Trong nước bể bơi có thể có các mầm bệnh như vi khuẩn, nấm sẵn sàng gây hại cho vùng kín của bạn. Chưa kể đến trường hợp có những người mang trong mình các bệnh phụ khoa dễ lây như nấm âm đạo, lậu đến bể bơi thì nguy cơ lây nhiễm cho các người khác là điều khó tránh. Các bệnh phụ khoa nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời sẽ để lại các biến chứng nguy hiểm.

2. Bệnh hen (suyễn)

Theo các nhà nghiên cứu người Bỉ, nếu bơi tại các bể bơi chứa nhiều clo, chất tẩy trùng nước bể bơi sẽ có nguy cơ cao mắc bệnh suyễn, nhất là trẻ nhỏ.

3. Viêm tai, tiêu chảy, bệnh mắt, bệnh ngoài da

Nước là môi trường lý tưởng để ký sinh trùng gây tiêu chảy cryptosporidum sinh sống. Loại ký sinh trùng này gây tổn thương tế bào biểu mô dạ dày, ruột và đường hô hấp. Bên cạnh đó, các mầm bệnh có trong bể bơi có thể gây cho bạn các căn bệnh về mắt, tai và da như đau mắt đỏ, viêm tai giữa và viêm da mãn tính. Để phòng tránh bệnh, bạn phải tránh nước bể bơi vào miệng, súc miệng sau khi đi bơi bằng nước muối sinh lý và cũng rửa mắt, nhỏ mắt bằng các dung dịch sát trùng thích hợp có bán ở các quầy thuốc tây. Nhớ dùng tampon để thấm hết nước trong tai, tránh nguy cơ nước ứ đọng ở tai sẽ gây viêm nhiễm.

4. Nguyên tắc an toàn bơi

- Chọn lựa bể bơi an toàn về chất lượng nước. Không bơi ở bể có quá đông người. Không bơi ở bể bơi có nước tù đọng và không thay nước hay được khử trùng thường xuyên.

- Không đi bơi khi đang mắc bệnh phụ khoa, bệnh ngoài da hoặc đang bị tiêu chảy, đau mắt, viêm tai hay vào những ngày “đèn đỏ”.

- Trước khi xuống bể bơi, nên tắm bằng nước sạch. Sau khi bơi xong, nên tắm kỹ lại bằng sữa tắm, xà phòng và gội đầu bằng dầu gội, dầu xả.

- Sau khi bơi nhớ vệ sinh vùng kín bằng dung dịch chuyên biệt.

- Khi đi bơi nhớ mang theo kính bơi, mũ bơi, mặc đồ bơi.

- Khởi động từ 20-30 phút trước khi xuống bể bơi.

- Trước khi bơi không ăn quá no và nên uống đủ nước.

BS Ngô Văn Tuấn
Source : nld[dot]com[dot]vn

Thứ Tư, 19 tháng 4, 2017

Cha mẹ hút thuốc lá, con dễ bị ung thư máu

Tin mới

11/04/2017 21:51

Hiểm nguy do bị phơi nhiễm với khói thuốc lá ở trẻ em và thai nhi có cha mẹ hút thuốc lá từng được giới y khoa cảnh báo.

Khảo sát lần này của các nhà khoa học Mỹ thuộc ĐH California - San Francisco mới được công bố trên tạp chí Cancer Research số tháng 4 nêu thêm nguy cơ thay đổi về gien dẫn đến khả năng bị ung thư máu ở nhóm trẻ em này.

Cha mẹ hút thuốc lá làm tăng nguy cơ bệnh bạch cầu ở con Ảnh: FOX NEWS
Cha mẹ hút thuốc lá làm tăng nguy cơ bệnh bạch cầu ở con Ảnh: FOX NEWS

Nhóm nghiên cứu đã khảo sát dữ liệu về mẫu khối u của 559 bệnh nhi bạch cầu cấp dòng lympho (ALL) - một dạng ung thư máu khá phổ biến ở trẻ em. Khoảng 2/3 mẫu khối u chứa ít nhất 1 trong 8 gien bị mất đi, hiện tượng thường gặp ở bệnh ALL. Sự tổn hại về gien này phổ biến hơn ở bệnh nhi có mẹ hút thuốc lá lúc mang thai và sau khi sinh. Các nhà khoa học phát hiện mỗi 5 điếu thuốc lá mà người mẹ hút hằng ngày khi mang thai, có thể làm tăng thêm lượng tổn hại gien lên 22% và mỗi 5 điếu mẹ hút trong thời gian cho con bú thì tỉ lệ tăng thêm lên 74%. Họ đặc biệt ghi nhận tỉ lệ tổn hại gien ở trẻ cao hơn từ 7% đến 8% khi mẹ hoặc cha đứa trẻ hút 5 điếu thuốc/ngày, trước thời gian bào thai hình thành. Khảo sát cũng cho thấy bé trai nhạy cảm hơn với tác hại của thuốc lá từ người mẹ. Tuy nhiên, nghiên cứu còn chưa xác định được thời gian tổn hại gien tương ứng với bệnh ALL phát triển.

Trúc Lâm
Source : nld[dot]com[dot]vn

Thứ Hai, 17 tháng 4, 2017

Ngón tay lò xo

Tin mới

09/04/2017 21:45

Ngón tay bật (còn gọi là ngón tay lò xo hay ngón tay cò súng) làm hạn chế vận động ngón tay. Khi bạn cố gắng duỗi thẳng ngón tay, nó sẽ khóa hoặc thắt chặt trước khi bật ra thẳng. Ngón tay bật là một bệnh ảnh hưởng đến gân gập các ngón tay.

Nguyên nhân bệnh ngón tay bật thường là vô căn. Có nhiều yếu tố nguy cơ làm tăng khả năng gây bệnh: Ngón tay bật phổ biến ở nữ hơn nam; bệnh thường phổ biến nhất ở những người có độ tuổi từ 40 đến 60; hiện tượng ngón tay bật phổ biến hơn ở những người mắc bệnh tiểu đường, thoái hóa khớp; ngón tay bật có thể xảy ra sau các hoạt động căng bàn tay.

Các triệu chứng của ngón tay bật thường bắt đầu mà không có bất kỳ chấn thương nào. Chúng thường xuất hiện sau một quãng thời gian bàn tay làm việc nặng. Các triệu chứng bao gồm: Cục u mềm trong lòng bàn tay, sưng tấy, cảm giác kẹt các ngón tay, đau khi gấp hoặc duỗi thẳng các ngón tay. Cứng khớp và kẹt gân thường nặng hơn sau thời gian tay không hoạt động, chẳng hạn sau khi thức vào buổi sáng. Các ngón tay sẽ nới lỏng lại sau khi bàn tay hoạt động. Thỉnh thoảng, các khớp ngón tay bị biến dạng. Trong một số trường hợp nặng, ngón tay không thể duỗi thẳng. Ngón tay bật có thể bị một hoặc nhiều ngón. Bác sĩ có thể chẩn đoán bệnh dựa vào bệnh sử và khám bàn tay của bạn.

Nếu các triệu chứng nhẹ, cho các ngón tay nghỉ ngơi có thể giải quyết được bệnh. Bác sĩ có thể đề nghị bạn mang nẹp giữ các ngón tay ở vị trí trung tính. Thuốc giảm đau, kháng viêm - chẳng hạn các thuốc kháng viêm NSAID hay acetaminophen - có thể được sử dụng để làm giảm cơn đau.

Bác sĩ có thể chọn tiêm một mũi corticoid - loại thuốc chống viêm mạnh - vào bao gân. Trong một số trường hợp, triệu chứng giảm rõ rệt, nếu tái phát thì có thể tiêm thêm một mũi nữa. Nếu sau 2 lần tiêm, các triệu chứng không giảm thì nên cân nhắc việc phẫu thuật. Tiêm thuốc thường khó điều trị dứt điểm bệnh nếu bạn bị ngón tay bật trong một thời gian dài hoặc có bệnh nội khoa kèm theo như tiểu đường, thoái hóa khớp.

Hầu hết ngón tay vận động dễ dàng ngay sau khi phẫu thuật. Thường có đau nhẹ lòng bàn tay, thường xuyên nâng cao tay của bạn (trên tim) có thể làm giảm sưng và đau. Hồi phục sau một tuần nhưng có thể mất 6 tháng để các triệu chứng sưng và cứng ngón tay mất hoàn toàn. Nếu ngón tay khá cứng trước phẫu thuật thì tập vật lý trị liệu sau mổ sẽ hồi phục nhanh hơn.

Ngón tay bật không phải là một bệnh nguy hiểm. Chỉ định phẫu thuật dựa vào mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng, điều trị không phẫu thuật thất bại, ngón tay bị kẹt cứng không duỗi ra được.

ThS-BS Lê Ngọc Tuấn (Bệnh viện Chấn thương Chỉnh hình TP HCM)
Source : nld[dot]com[dot]vn

Thứ Sáu, 14 tháng 4, 2017

Kích thích não để giảm cân

Tin mới

06/04/2017 21:48

Nghiên cứu của các nhà khoa học Ý ở ĐH Milan, vừa được báo cáo tại hội nghị thường niên của Hội Nội tiết Mỹ tại TP Orlando, nêu khả năng kỹ thuật kích thích điện từ không xâm lấn qua não có thể giúp giảm cân thông qua sự biến đổi lành mạnh hơn về thành phần vi khuẩn đường ruột.

Theo trang tin Medical News Today, nhóm nghiên cứu đã thử nghiệm trên 3 đàn ông và 11 phụ nữ trong độ tuổi 22-65, có chỉ số thể hình BMI từ 30 đến 45. Người tham gia được chia làm 2 nhóm: được trị liệu bằng thiết bị kích thích từ xuyên sọ (dTMS) mỗi tuần 3 lần với tổng cộng 15 lần hoặc chỉ được cho kích thích giả.

Phương pháp dTMS có thể tác động lên hệ vi sinh, giúp giảm cân Ảnh: MED GADGET
Phương pháp dTMS có thể tác động lên hệ vi sinh, giúp giảm cân Ảnh: MED GADGET

Trước và sau khi thử nghiệm, mẫu phân cả 2 nhóm được lấy để phân tích về thành phần hệ vi sinh đường ruột. Nhóm nghiên cứu cũng đo chỉ số đường huyết, insulin, hormone tuyến yên và các chất dẫn truyền thần kinh như norepinephrine. Hormone tuyến yên giữ vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh sự thèm ăn, trong khi nghiên cứu mới đây cũng cho thấy norepinephrine và các chất dẫn truyền thần kinh khác có tác động đến thành phần hệ vi sinh.

Kết quả cho thấy những người được trải qua dTMS giảm 3% thể trọng, giảm 4% lượng mỡ và phân tích mẫu phân cho thấy lượng lợi khuẩn tăng với lợi ích kháng viêm thường được tìm thấy ở những người khỏe mạnh.

Biện pháp dTMS - vốn được xem là khá an toàn - thường được dùng để trị bệnh trầm cảm, một số rối loạn thần kinh và chứng nghiện.

Lưu Nguyễn
Source : nld[dot]com[dot]vn

Thứ Tư, 12 tháng 4, 2017

Bé gái bị lạm dụng tình dục: Không ít hệ lụy

Tin mới

02/04/2017 21:29

Trẻ em gái bị lạm dụng tình dục dễ có khả năng dậy thì sớm, dẫn tới tác động tiêu cực về lâu dài đến thể chất và tinh thần của các em, theo nghiên cứu của các nhà khoa học Mỹ thuộc ĐH Bang Pennsylvania mới được công bố trên tờ Journal of Adolescent Health.

Nhóm nghiên cứu đã so sánh dữ liệu y tế của 84 bé gái có tiền sử bị lạm dụng tình dục với 89 trẻ không trải qua bi kịch này. Họ nhận thấy trẻ từng bị lạm dụng bước vào giai đoạn dậy thì sớm hơn trẻ lớn lên bình thường. Nhóm nghiên cứu phát hiện nhóm bé gái bị lạm dụng tình dục có lông mu phát triển sớm hơn trung bình khoảng 1 năm và ngực nở nang sớm hơn 8 tháng so với nhóm trẻ kia. Trưởng nhóm nghiên cứu Jennie Noll giải thích: “Tình huống căng thẳng cao, như khi trẻ bị lạm dụng tình dục, có thể khiến hormone liên quan tới stress gia tăng, thúc đẩy sự khởi đầu giai đoạn dậy thì đến sớm hơn mốc thời gian sinh học chuẩn”.

Hậu quả bị lạm dụng tình dục còn kéo dài đối với sức khỏe của các bé gái Ảnh: HERALD SUN
Hậu quả bị lạm dụng tình dục còn kéo dài đối với sức khỏe của các bé gái Ảnh: HERALD SUN

Nhóm nghiên cứu khẳng định tình trạng dậy thì sớm ảnh hưởng tiêu cực lâu dài đến sức khỏe - cả về thể chất lẫn tinh thần. Do lượng hormone estrogen gia tăng trong thời gian dài dẫn tới sự phát triển thể chất sớm, bé gái dễ có nguy cơ bị ung thư vú và ung thư buồng trứng hơn so với các bạn trải qua thời gian phát triển bình thường. Mặt khác, dậy thì sớm từng được biết là một yếu tố góp phần làm tăng khả năng bị trầm cảm, lạm dụng chất gây nghiện, dễ vướng vào tình dục, có nguy cơ và khả năng mang thai ở tuổi thiếu niên.

Trúc Lâm
Source : nld[dot]com[dot]vn

Thứ Ba, 11 tháng 4, 2017

7 mẹo “không bình thường” khống chế bệnh trầm cảm

Ảnh minh họa.

Cuộc sống, công việc áp lực cộng thêm những thói quen không lành mạnh cùng với đó khuynh hướng di truyền, mất cân bằng hóa học trong não… dẫn đến nhiều người mắc chứng trầm cảm. Trầm cảm có nhiều loại và hình thức, trong một số trường hợp có thể là xu hướng tự tử. Trầm cảm có thể được điều trị bằng các buổi trị liệu nhận thức sâu sắc, phân tâm học và điều trị bằng thuốc.

Bạn có thể tham khảo một số mẹo dưới đây để kiểm soát trầm cảm.

Mẹo 1: Tăng cường hoạt động

Một nghiên cứu gần đây đã phát hiện ra rằng, những người bị chứng trầm cảm lâm sàng được hưởng lợi rất nhiều khi họ tham gia vào việc giúp đỡ những người khác. Vì hành động này làm cho họ cảm thấy bản thân mình tốt hơn.

Mẹo 2: Nên giao tiếp nhiều hơn

Nhiều người bị trầm cảm có xu hướng cô lập mình và không tìm kiếm sự giúp đỡ. Nói chuyện với bạn bè, gia đình của bạn và tìm kiếm sự an ủi trong mọi người có thể giảm bớt sự trầm cảm.

7 mẹo “không bình thường” khống chế bệnh trầm cảm ảnh 1
Trò chuyện cũng là một cách hạn chế trầm cảm.

Mẹo 3: Đi bộ

Đi bộ dưới ánh mặt trời, trong một thời gian ngắn, cũng có tác dụng giúp điều trị trầm cảm tự nhiên, vì vitamin D từ các tia mặt trời có thể làm tăng mức dopamine trong não.

Mẹo 4: Môi trường sống ngăn nắp

Một cách khác để kiểm soát trầm cảm là giữ môi trường xung quanh gọn gàng, tạo không gian thoải mái cho người bệnh.

Mẹo 5: Âm nhạc

Âm nhạc và liệu pháp nghệ thuật đã chứng minh có tác dụng giảm bớt triệu chứng trầm cảm ở mức độ lớn. Ngoài ra, nên tham gia một khóa học nghệ thuật để chứng trầm cảm của bạn mờ dần.

7 mẹo “không bình thường” khống chế bệnh trầm cảm ảnh 2
Nghe nhạc là sự lựa chọn lý tưởng.

Mẹo 6: Nuôi thú cưng

Nhận một con vật cưng và dành thời gian chăm sóc cho con vật cưng có thể giữ cho bạn phân tâm từ những suy nghĩ đen tối và giúp điều trị trầm cảm.

Mẹo 7: Tránh sử dụng đồ uống chứ nhiều caffein

Tránh uống quá nhiều đồ uống có chứa caffein như cà phê hoặc thức uống tăng lực, nếu bạn muốn kiểm soát chứng trầm cảm của bạn, vì những đồ uống này có thể khiến các triệu chứng trầm cảm nặng hơn.

Source : laodong[dot]com[dot]vn

Thứ Hai, 10 tháng 4, 2017

Các tổn thương vai thường gặp

Tin mới

30/03/2017 22:12

Chấn thương vai thường do các hoạt động thể thao liên quan đến sự chuyển động quá mức, lặp đi lặp lại, chẳng hạn bơi lội, chơi quần vợt, đánh bóng và cử tạ. Chấn thương cũng có thể xảy ra khi ta sơn tường, treo màn cửa, làm vườn.

Dấu hiệu cảnh báo chấn thương vai

Nếu bạn đang bị đau ở vai, hãy tự hỏi những câu sau:

- Vai của bạn có cứng không?

- Bạn có thể quay cánh tay của mình ở tất cả các vị trí bình thường?

- Bạn có cảm thấy cánh tay mình có thể bật ra hoặc trượt khỏi ổ khớp vai?

- Bạn có cảm giác tay trở nên thiếu sức mạnh để thực hiện các hoạt động hằng ngày?

Nếu trả lời “có” với bất kỳ câu hỏi nào trong số này, bạn nên tham khảo ý kiến bác sĩ phẫu thuật chỉnh hình để giúp xác định mức độ nghiêm trọng của vấn đề.

Những chấn thương vai thường gặp

Hầu hết những vấn đề ở vai bao gồm các cơ, dây chằng và gân, chứ không phải là xương. Các vận động viên đặc biệt nhạy cảm với những vấn đề về vai. Một số người có khuynh hướng bỏ qua cơn đau và vẫn hoạt động bình thường khi có chấn thương vai. Điều này chỉ làm trầm trọng thêm tình trạng chấn thương và có thể gây ra nhiều vấn đề nghiêm trọng hơn.

Các tổn thương vai bao gồm:

- Mất vững: Đôi khi chỏm xương cánh tay di chuyển hoặc bị đẩy ra khỏi ổ chảo khớp vai, tình trạng này được gọi là mất vững khớp vai. Chúng có thể là kết quả của trật khớp vai một hay nhiều lần. Người bị mất vững khớp vai thường sẽ đau khi nâng cánh tay lên cao, cảm thấy vai lỏng lẻo.

- Hội chứng bắt chẹn: Do cơ chóp xoay cọ xát với bờ dưới mỏm cùng vai. Hội chứng bắt chẹn xảy ra trong các hoạt động nâng cao cánh tay. Cần phải điều trị sớm các bệnh nhân bị viêm ở vai kèm hội chứng bắt chẹn bởi tình trạng viêm cuối cùng có thể gây ra tổn thương nghiêm trọng hơn như đứt gân, viêm dính khớp vai.

- Tổn thương gân cơ chóp xoay: Chóp xoay là một trong những thành phần quan trọng nhất của vai. Nó bao gồm một nhóm gân cơ nối giữa xương bả vai và xương cánh tay. Gân cơ chóp xoay giúp cho việc nâng cánh tay lên đầu. Khi gân cơ chóp xoay bị tổn thương thì đôi khi chức năng khớp vai khó phục hồi hoàn toàn để tiếp tục tham gia các hoạt động thể thao.

Tóm lại, trong điều trị chấn thương vai, chẩn đoán sớm là chìa khóa để ngăn ngừa chấn thương nghiêm trọng hơn.

Các bài tập khớp vai cơ bản

Thông thường, bác sĩ phẫu thuật chỉnh hình sẽ kê toa và hướng dẫn một số bài tập nhằm tăng cường cơ bắp vùng vai. Dưới đây là một số bài tập cơ bản mà bạn có thể làm để tăng sức mạnh cho cơ bắp vùng vai và tránh các chấn thương.

- Tập với dây thun: Cột dây thun có đàn hồi vào 2 bàn chân. Ngồi thẳng lưng, nhẹ nhàng kéo dây thun về phía cơ thể, giữ nguyên tư thế khoảng 5 giây, lặp lại 5 lần với mỗi cánh tay; thực hiện 2 lần/ngày.

- Chống tường: Đứng thẳng đối mặt với bức tường, chống 2 tay lên tường và 2 chân giạng rộng. Từ từ thực hiện chống đẩy, lặp lại 5 lẫn, mỗi lần giữ 5 giây; thực hiện 2 lần/ngày.

- Chống đẩy với ghế tay vịn: Ngồi thẳng vào ghế tay vịn, 2 bàn chân chạm sàn nhà. Sử dụng cánh tay từ từ nâng cơ thể lên khỏi ghế, giữ khoảng 5 giây, lặp lại 5 lần; thực hiện 2 lần/ngày.

Ngoài ra, bác sĩ cũng có thể kê đơn thuốc chống viêm để giảm đau và sưng.

Năm 2016, khoảng 7,5 triệu người đã đến bác sĩ khám để giải quyết vấn đề về vai, bao gồm các chấn thương, tổn thương dây chằng ở vai và chi trên. Hơn 4,1 triệu người có vấn đề về gân cơ chóp xoay.

ThS-BS Lê Ngọc Tuấn
Source : nld[dot]com[dot]vn

Thứ Sáu, 7 tháng 4, 2017

Triển vọng mới về thuốc chữa đái tháo đường

Tin mới

28/03/2017 22:16

Trong nghiên cứu mới được công bố trên tạp chí Cell, các nhà khoa học Mỹ tại ĐH Harvard và ĐH Yale đã phát hiện một dạng thành phần hóa học có thể kéo giảm sự sản sinh glucose ở gan, nêu triển vọng mới điều trị đái tháo đường type 2.

Thành phần được nhóm nghiên cứu mới xác định được đặt tên là SR-18292, có thể làm biến đổi protein tên gọi PGC-1alpha. Protein này giữ vai trò nồng cốt trong việc cân bằng năng lượng và giúp kiểm soát các gien liên quan với cơ chế chuyển hóa năng lượng. Ví dụ khi tế bào biểu hiện quá đáng PCG-1alpha trong lúc đói, sự sản sinh glucose ở gan tăng cao. Tuy nhiên, khi các nhà khoa học biến đổi chức năng của PGC-1alpha thông qua quá trình axetyl hóa, glucose sẽ giảm sinh ra. SR18292 làm tăng axetyl hóa của PGC-1alpha, khiến sự sản sinh glucose ở gan giảm sút. Thí nghiệm đã cho thấy SR18292 cải thiện đáng kể sức khỏe của mẫu động vật bị đái tháo đường do lượng đường trong máu giảm, độ nhạy insulin tăng và sự cân bằng glucose được cải thiện.

Nghiên cứu ở cấp độ tế bào, tạo hy vọng chữa trị mới cho bệnh nhân đái tháo đường type 2.Ảnh: TES

Nghiên cứu ở cấp độ tế bào, tạo hy vọng chữa trị mới cho bệnh nhân đái tháo đường type 2.Ảnh: TES

Đồng tác giả nghiên cứu Patrick Griffin giải thích rằng thành phần SR18292 có thể được nghiên cứu để điều tiết cơ chế chuyển hóa glucose, trở thành tác nhân để chữa trị đái tháo đường type 2 hoặc kết hợp với thuốc khác đang được sử dụng hiện nay.

Lưu Nguyễn
Source : nld[dot]com[dot]vn

Thứ Hai, 3 tháng 4, 2017

Không lạm dụng thuốc hạ sốt cho trẻ

Tin mới

26/03/2017 21:48

Để giảm đau hạ sốt, thuốc thường được dùng là aspirin và paracetamol.

Trong 2 loại thuốc này, paracetamol được xem là tương đối an toàn. Aspirin giảm đau, hạ nhiệt tốt nhưng lại gây nhiều tác dụng phụ, đặc biệt là gây tổn hại niêm mạc dạ dày - tá tràng và tăng nguy cơ xuất huyết. Cần lưu ý, không được dùng aspirin khi nghi ngờ sốt xuất huyết. Phụ nữ có thai và trẻ em cũng không nên dùng aspirin.

Nên lựa chọn paracetamol nhưng cũng cần lưu ý thuốc này không phải hoàn toàn vô hại, dùng quá liều có thể hại gan (đã có nhiều trường hợp trẻ bị ngộ độc paracetamol phải nhập viện). Không nên sử dụng paracetamol quá thường xuyên và phải dùng thật đúng liều. Tóm lại, thuốc hạ sốt nên dùng là paracetamol.

Nên lưu ý, có 2 loại thuốc hạ sốt chứa dược chất paracetamol. Một là thuốc chỉ chứa paracetamol không thôi (nhiều dược phẩm xem kỹ sẽ thấy trong công thức chỉ chứa một thuốc là paracetamol), đây có thể xem là thuốc giảm đau hạ nhiệt thông thường. Loại thứ hai là thuốc phải thật thận trọng trong sử dụng, đó là thuốc phối hợp đến ba dược chất. Một là paracetamol, hai là thuốc kháng histamin trị dị ứng clorpheniramin, ba là thuốc có tác dụng co mạch, làm tan máu chống sung huyết ở niêm mạc mũi dùng để trị nghẹt mũi, sổ mũi phenylpropanolamin (nay đã bị cấm), phenylephrin, pseudoephedrin. Thuốc loại thứ hai này có thể kể: decolgen fort, tiffy, contac, coldcap, actifed…

Đối với trẻ con còn quá nhỏ tuổi, cần tránh dùng thuốc trị hạ sốt có chứa chất co mạch chống sung huyết. Thậm chí, không được dùng thuốc nhỏ mũi có chứa chất co mạch bởi thuốc không chỉ có tác dụng làm co mạch ở niêm mạc mũi mà còn gây co mạch ở các nơi khác như gan, tim, thận… của trẻ khi cơ thể chưa phát triển hoàn chỉnh để có thể chấp nhận được tình trạng này. Đối với trẻ bị sốt, chỉ nên cho sử dụng paracetamol và nên dùng dạng thuốc lỏng có mùi vị thơm để trẻ dễ uống.

Bên cạnh đó, có thể hạ sốt cho trẻ bằng cách không dùng thuốc như sau:

Để bệnh nhi nằm chỗ thoáng mát (nhiệt độ nơi nằm phải thấp hơn nhiệt độ cơ thể 5-6 độ C) và nhớ tránh gió lùa. Cho bệnh nhi mặc quần áo mỏng, thoáng (tránh thói quen ủ, trùm nhiều quần áo, chăn mền). Lau bằng nước ấm (30-32 độ C, tức nước có nhiệt độ vừa phải chứ không phải nước quá lạnh hay nước đá). Nhúng khăn và lau toàn thân bệnh nhi.

Thuốc hạ sốt cần dùng đúng cách:

- Paracetamol chỉ trị triệu chứng sốt, dùng sẽ hết sốt nhưng hết thuốc có thể sẽ sốt trở lại khi nguyên nhân bệnh lý gây sốt vẫn còn. Vì vậy, chỉ dùng thuốc paracetamol trong một thời gian 3-4 ngày. Nếu sốt tái diễn hoặc tăng thêm, rất cần đi khám bác sĩ hoặc đến cơ sở y tế để được chẩn đoán và cho hướng điều trị thích hợp.

- Liều thông thường hạ sốt cho trẻ là 10-15 mg/kg cân nặng, ngày uống 3-4 lần; liều tối đa cho trẻ là không quá 60 mg/kg/ngày.

Các trường hợp nên đưa trẻ đi bệnh viện

- Sốt nhẹ nhưng kéo dài: Trẻ có thể bị bệnh lao nhiễm, bị bệnh về máu.

- Sốt cao kèm theo một triệu chứng: Trẻ bị sốt xuất huyết kèm sốt cao lại thêm các vết bầm tím, chấm xuất huyết ngoài da hoặc đau bụng. Trẻ sốt cao kèm theo khó thở, trường hợp này có thể bị viêm phổi.

PGS-TS-DS Nguyễn Hữu Đức
Source : nld[dot]com[dot]vn

Thứ Bảy, 1 tháng 4, 2017

Bệnh viêm cầu thận - những triệu chứng không thể bỏ qua

Nước tiểu của người bệnh viêm cầu thận có màu như xá xị hoặc màu trà đậm (ảnh BV)

Vừa qua, sự việc 5 học sinh ở xã Hạnh Dịch, huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An được phát hiện mắc bệnh viêm cầu thận cấp đã khiến nhiều người hoang mang về căn bệnh này.

Vì sao bị viêm cầu thận

ThS BS. Huỳnh Ngọc Phương Thảo – Trưởng Khoa Nội Thận - Thận Nhân Tạo Bệnh viện Đại học Y Dược TPHCM cho biết, bệnh viêm cầu thận cấp hậu nhiễm liên cầu trùng là tình trạng viêm ở cầu thận sau khi nhiễm liên cầu khuẩn tiêu huyết Bêta nhóm A.

Bệnh khởi đầu là viêm họng hoặc viêm da, sau đó vi trùng không tấn công trực tiếp lên thận mà thông qua cơ chế miễn dịch. Nghĩa là vi khuẩn là kháng nguyên (vật lạ so với cơ thể), khi vào cơ thể, cơ thể sẽ chống đỡ bằng cách sinh ra kháng thể. Kháng thể sẽ kết hợp với kháng nguyên để hình thành phức hợp kháng nguyên kháng thể. Trong điều kiện bình thường sẽ được hệ miễn dịch loại bỏ phức hợp này và người bệnh sẽ khỏe mạnh bình thường. Tuy nhiên, ở một số người bệnh có hệ miễn dịch bị rối loạn, các phức hợp kháng nguyên kháng thể sẽ không bị loại bỏ đi mà trôi theo dòng máu, đến cầu thận bị mắc lại và gây ra tổn thương và biểu hiện bệnh lý.

Viêm cầu thận thường gặp ở lứa từ 4 đến 14 tuổi. Trẻ dưới 2 tuổi và người trên 20 tuổi ít khi mắc bệnh. Tuy nhiên, viêm cầu thận cấp ở người lớn thường nặng hơn ở trẻ em. Nam gặp nhiều gấp đôi nữ. Bệnh có thể xảy ra lẻ tẻ, hoặc đôi khi có thể thành dịch. Bệnh hay gặp ở những nơi kinh tế kém phát triển, đông dân cư, điều kiện vệ sinh kém, hoặc có thể phát tán trong trường học. Hiện nay tỉ lệ bệnh ngày càng giảm trên thế giới, nhất là ở các nước phát triển, do việc sử dụng nguồn nước sạch có khử Fluoride cùng việc chăm sóc sức khỏe ban đầu tốt.

Bệnh có thể chữa khỏi

ThS BS. Huỳnh Ngọc Phương Thảo cho biết, một số triệu chứng của bệnh: bị viêm họng (sốt, đau họng, amygdale sưng to, mưng mủ) 1-2 tuần, hoặc viêm da mủ (có nhiều mụn mủ ở một vùng da) 2-3 tuần; người bệnh bị sưng phù hai mi mắt, phù mặt, có thể lan toàn thân, tiểu ít, nước tiểu sậm màu như nước trà đậm hoặc như màu xá xị, tăng huyết áp thường gặp, có thể tăng huyết áp nặng ảnh hưởng lên thần kinh (lơ mơ, ngủ gà, đau đầu dữ dội, co giật); khó thở do suy tim, có thể ở mức độ nặng, ho trào bọt hồng, suy hô hấp, tử vong.

Người bệnh đôi khi có triệu chứng toàn thân nhưng không nổi bật như đau đầu, mệt mỏi, chán ăn, đau hông lưng do căng chướng bao thận. Có một số trường hợp không biểu hiện ra ngoài, chỉ phát hiện tình cờ trên xét nghiệm như nước tiểu có nhiều đạm, máu, suy chức năng thận, kháng thể kháng vi khuẩn (ASLO) tăng cao trong máu.

Khi đã xảy ra suy thận, người bệnh nên nghỉ ngơi, hạn chế hoạt động, ăn lạt (giảm muối), kiểm soát huyết áp, dùng thuốc lợi tiểu, điều trị suy tim sung huyết, điều trị các biến chứng suy thận cấp. Một số trường hợp nặng cần phải chạy thận nhân tạo cấp cứu.

Theo BS Phương Thảo, bệnh có tiên lượng tốt, đặc biệt ở trẻ em. Viêm cầu thận điển hình sẽ biến mất trong 1-2 tuần. Phù, tăng huyết áp sẽ khỏi khi người bệnh tiểu được. Người bệnh hoàn toàn hết các triệu chứng sau 4-6 tuần. Ở trẻ em, tỉ lệ tử vong trong giai đoạn cấp rất thấp. Ở người lớn tỉ lệ tử vong có thể lên đến 25%. Tiểu máu có thể kéo dài đến 6 tháng nhưng hiếm khi quá 1 năm. Tiểu đạm nhẹ có thể kéo dài nhiều tháng. Một số người bệnh tăng huyết áp, tiểu đạm, suy thận sau 10-40 năm theo dõi.

Một số cách phòng chống bệnh như cải thiện điều kiện vệ sinh, chăm sóc sức khỏe ban đầu. Nếu trẻ bị viêm họng hoặc viêm mủ da, không nên xem thường, không tự dùng thuốc mà phải đến khám ở bác sĩ chuyên khoa nhi để tích cực điều trị nhiễm khuẩn sớm ngay từ đầu, và có thể điều trị những người thân bị mắc bệnh. Nếu trẻ mắc bệnh cần cho trẻ nghỉ ngơi tại nhà để tránh lây lan trong cộng đồng. Nếu trẻ có biểu hiện bệnh thận như phù, tiểu ít, tiểu sậm màu, tăng huyết áp thì phải đưa trẻ đến khám với bác sĩ chuyên khoa thận để có điều trị chuyên khoa kịp thời, tránh những biến chứng đáng tiếc có thể xảy ra. “Tuy nhiên, cũng đừng quá hoang mang, bệnh này nói chung đa số chữa khỏi” - BS. Thảo khuyến cáo.

Bệnh viêm cầu thận - những triệu chứng không thể bỏ qua ảnh 1
Người bệnh viêm cầu thận nặng có thể dẫn đến suy thận và phải chạy thận cấp cứu (ảnh K.Q)
Source : laodong[dot]com[dot]vn